Bộ trưởng Nga: ‘Chúng tôi không chỉ muốn bán máy bay cho Việt Nam’

Việt Nam có thể được hưởng lợi nhiều nhất trong đàm phán TPP
Việt Nam: Mảnh đất màu mỡ của hàng giả
Fitch: Hợp nhất ngân hàng có lợi cho Việt Nam
– Tôi có cơ hội khẳng định đây là loại máy bay khả quan, được định hướng phát triển để chan cư khách trên một số chặng bay liên tục đông khách. Tôi cũng muốn nói thêm rằng với công nghiệp hàng không, doanh nghiệp chúng tôi không chỉ muốn kinh doanh máy bay cho Việt Nam hay một số khách khác, mà còn rất nhiều service kèm theo huấn luyện, đào tạo, bảo dưỡng Tuy nhiên, khách lớn nhất của doanh nghiệp chúng tôi là các nước Mỹ Latin khi mua 30 chiếc, trong đó đã nhận 18 chiếc. Ngay tại Đông Nam Á, UAC đã kinh doanh được 2 chiếc (loại phục vụ doanh nhân) và 3 chiếc khác cho Indonesia. – Như tôi nói là Nga muốn có 30% thị phần của dòng máy bay tương tự Superjet 100 tại Đông Nam Á trong một số năm t…

– Tôi có cơ hội khẳng định đây là loại máy bay khả quan, được định hướng phát triển để chan cư khách trên một số chặng bay liên tục đông khách. Ngay tại Đông Nam Á, UAC đã kinh doanh được 2 chiếc (loại phục vụ doanh nhân) và 3 chiếc khác cho Indonesia. Tuy nhiên, khách lớn nhất của doanh nghiệp Chúng tôi là các nước Mỹ Latin khi mua 30 chiếc, trong đó đã nhận 18 chiếc.
Cũng phải nói thêm là Superjet 100 là một đề án quốc tế, với sự tham gia của Nga, Italy, Pháp, Mỹ… Nga đóng góp dao động 40-45% giá cả trị thực phẩm chức năng, và an cư một số mẫu cấu tạo riêng cho doanh nhân, doanh nghiệp Chúng tôi có cơ hội nâng mật độ này lên tối đa dao động 60%.
– Ở Việt Nam , từng có hãng bay là Air Mekong liên tục sử dụng dòng máy bay dưới 100 chỗ và không thành tựu. Các ông có ưu đãi gì về giá cả, cũng như gần như hiệu nghiệm khai thác chiếc máy bay này?
– Giá cả là câu chuyện của đàm phán, phụ thuộc vào từng trường phù hợp, từng phù hợp đồng cụ thể. Còn về thị trường, loại máy bay Air Mekong từng dùng do Bombardier làm ra. Họ làm máy bay 40-72 chỗ, còn Superjet 100 có 85-95 chỗ. Tôi cho rằng đây là 2 thị trường khác nhau, nên khó so sánh hiệu nghiệm. Tuy nhiên, theo tìm hiểu thị trường, trong một số năm tới, khu vực Đông Nam Á sẽ cần dao động 250 máy bay kiểu như Superjet 100. Chúng tôi mong muốn và tự tin có cơ hội giành được dao động 30% thị phần đó.
– Còn về đào tạo, ông nghĩ sao khi hầu hết phi hành đoàn tại Việt Nam hiện đều được huấn luyện để vận hành máy bay Boeing, Airbus…?
– Không chỉ an cư Việt Nam mà ngay tại Nga cũng vậy. Trừ thời Liên Xô trước đây, hiện tại các hãng cũng bay bằng Boeing, Airbus cả. Chúng tôi cũng phải huấn luyện lại phi công Nga để vận hành Superjet nên rất có sự trải nghiệm trong vấn đề này. Hiện các cơ san cư đào tạo đã rất thuần thục rồi.
Tôi cũng muốn nói thêm rằng với công nghiệp hàng không, doanh nghiệp chúng tôi không chỉ muốn kinh doanh máy bay cho Việt Nam hay một số khách khác, mà còn rất nhiều service kèm theo: huấn luyện, đào tạo, bảo dưỡng… Chúng tôi cũng đang lên lịch trình xây tại Việt Nam một trọng điểm bảo dưỡng máy bay Superjet 100 cho toàn khu vực Đông Nam Á.

DN được tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa

Trong năm 2015, đối tác có khả năng tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa xuất khẩu của chính mình mà không cần làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận.
Tới đây, đối tác (DN) sinh sản sẽ được tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa để hưđịnh cưng th…


– Tại sao Nga lại chọn Việt Nam để xây trọng điểm này, trong khi một số khách thứ nhất lại đến từ Thái Lan, Indonesia?
– Như tôi nói là Nga muốn có 30% thị phần của dòng máy bay tương tự Superjet 100 tại Đông Nam Á trong một số năm tới và cũng cần một trọng điểm bảo dưỡng đặt tại đây. Trong khu vực có nhiều chọn lựa để đặt trọng điểm này, song Việt Nam có ưu thế vì 2 nước đã có sự trải nghiệm làm trọng điểm bảo dưỡng máy bay trực thăng. Các cơ chế kết phù hợp, đi đếnều hành cho nên sẽ rất thuận lợi.
– Ngoài hàng không, ông có nói về việc mời doanh nghiệp Việt Nam sang đầu tư công nghiệp nhẹ tại Nga. Đề xuất này cụ thể ra sao?
– Trước mắt, doanh nghiệp chúng tôi đã giới thiệu 3 địa đi đếnểm mà các chúng ta có cơ hội đầu tư là vùng Viễn Đông, vùng Primorsky (phía đông Nga) và trong tỉnh Moscow. Những địa đi đếnểm này đều khả quan về giao thông, hạ tầng, xã hội. Lĩnh vực mà Nga mong muốn là dệt may, da giầy… với lao động một phần từ Nga, một phần đến từ Việt Nam. Các cơ san cư này có cơ hội được lập ra trong các khu công nghiệp, nơi có sẵn một số chính sách thuế, ưu đãi rồi.
– Vậy còn đề xuất thanh toán trực tiếp bằng đồng rouble và đồng Việt Nam. Ông nghĩ sao về tính khả thi khi nhu cầu của doanh nghiệp vẫn chủ yếu là đôla Mỹ hay euro?
– Tôi cho rằng đây là có chức năng 2 Nhà nước đặt ra. Do đó, 2 bên cần có chính sách để hướng dẫn doanh nghiệp, lúc này giá cả trị đồng nội tệ sẽ được củng cố. Chúng tôi đã thanh toán như vậy với Trung Quốc, Ấn Độ và gần đây là Thái Lan và Indonesia, và không thấy có cản tran cư đáng kể nào.